Trước khi thành Phật, Thái tử Tất Đạt Đa gần như đã có mọi thứ mà một con người thời bấy giờ có thể mong muốn: quyền lực, giàu sang, gia đình và địa vị.
Đôi khi mình tự hỏi, liệu chính vì đã nếm trải gần như trọn vẹn những điều mà thế giới vật chất có thể mang lại, nên Ngài mới đủ điều kiện để nhận ra rằng chúng vẫn chưa thể giải quyết tận gốc nỗi khổ của con người?
Nếu một người mỗi ngày còn phải lo miếng ăn, chỗ ngủ và sự sống còn, liệu họ có đủ khoảng trống trong tâm trí để suy ngẫm về vô thường, vô ngã hay giải thoát không? Có lẽ đây cũng là lý do mà trong tâm lý học hiện đại, người ta cho rằng khi các nhu cầu sinh tồn chưa được đáp ứng, con người rất khó hướng sự chú ý đến những nhu cầu tinh thần cao hơn.
Ở Việt Nam giai đoạn sau chiến tranh, phần lớn người dân phải dành gần như toàn bộ thời gian và năng lượng cho những nhu cầu cơ bản như cái ăn, chỗ ở và việc làm. Khi phần lớn nguồn lực tinh thần đều hướng vào việc sinh tồn, sẽ còn rất ít khoảng trống để đặt ra những câu hỏi như “Tôi là ai?” hay “Ý nghĩa cuộc sống là gì?”. Khi cả ngày chỉ xoay quanh việc kiếm gạo, sửa mái nhà hay nuôi con qua mùa đói, sẽ rất khó để một người dành hàng giờ suy ngẫm về bản ngã hay ý nghĩa cuộc đời.
Ngày nay, khi phần lớn người trẻ không còn phải lo bữa cơm ngày mai, họ có khoảng trống để bắt đầu đối diện với một câu hỏi khác: “Nếu không phải chỉ để tồn tại, vậy mình sống để làm gì?” - sâu xa hơn, bệnh tâm lý, tâm thần bây giờ cũng nhiều hơn trước đây ( J4F- nhưng cũng đáng để suy ngẫm)
Vì thế mình mạn phép cho rằng, từ thế giới vật chất đến thế giới tinh thần - không chỉ là từng giai đoạn và tiến trình phát triển về tâm lý của một đất nước, đây cũng là quy trình có thể áp dụng cho những cá nhân, chỉ khi họ bước qua giai đoạn làm chủ về vật chất- lúc đó mới có thể bắt đầu tìm kiếm những ánh sáng ở thế giới tinh thần. Vật chất không quyết định sự giác ngộ, nhưng nó có thể ảnh hưởng đến việc một người có bao nhiêu không gian để bắt đầu hành trình đi tìm nó.